so sánh giáo dục việt nam và mỹ

Thứ năm, 29/09/2022 16:08 (GMT+7) (ĐCSVN) - Hội thảo và Trưng bày sách giáo khoa giáo dục phổ thông được tổ chức nhằm đánh giá kết quả biên soạn, thẩm định, xuất bản, phát hành sách giáo khoa; so sánh và đánh giá cụ thể sự khác biệt giữa việc biên soạn, thẩm định VĂN HÓA DÂN GIAN ViỆT NAM Giảng viên: TRẦN LONG Khoa Văn hoá học Đại học KHXH&NV (Tp. HCM) Phương tiện giáo dục, giáo hóa con người về đạo đức, thẩm mĩ. 22 * ĐẶC ĐiỂM CỦA SO SÁNH VH DÂN GIAN VÀ VH BÁC HỌC. 35 Hình thức Đặc điểm VMIED.EDU.VN là Website chính thức của Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục Việt Mỹ. Với mục đích: 1. Công bố các kết quả nghiên cứu và ứng dụng trong dạy - học, góp phần phát triển giáo dục; Quyết định thành lập số 18-51/QĐ/VAYSE-VPNB ngày 12/07/2018 của Trung ương Học sinh Việt Nam học vì điểm, học sinh Mỹ học vì cảm thấy cần thiết cho tương lai. Trường học Việt Nam chú trọng thành tích, trường học ở Mỹ chỉ quan tâm đến thành tựu. Nền giáo dục Việt Nam hướng dẫn học sinh tìm kiếm một công việc tốt, nền giáo dục Mỹ dạy cách làm ông chủ. Trong cơ cấu tính CPI của Mỹ, chi tiêu cho lương thực và thực phẩm chỉ chiếm 8,3% trong tổng chi cho tiêu dùng của hộ gia đình nhưng với Việt Nam, tỷ trọng này lên tới 27,68%. Vì vậy, việc lương thực, thực phẩm Việt Nam tăng giá không nhiều góp phần khiến CPI Việt Nam thấp hơn nhiều so với ở Mỹ. Partnersuche Ab 50 Kostenlos Ohne Anmeldung. SSDH – Có thể nói rằng sự khác nhau giữa giáo dục đại học ở Mỹ và Việt Nam bắt nguồn từ sự khác nhau giữa chủ nghĩa cá nhân có nguồn gốc từ châu Âu trong văn hóa Mỹ và chủ nghĩa tập thể ảnh hưởng từ đạo Khổng Nho trong văn hóa Việt. So với tổng số khoảng 4,7 triệu học sinh phổ thông và sinh viên các trường Đại học và Cao Đẳng ở nước ta hiện nay thì số lượng khoảng du học sinh Việt Nam tại các cơ sở đào tạo nước ngoài trong đó ở Australia có ở Mỹ có và ở Pháp có chỉ chiếm một tỉ lệ khá thấp. Mỹ là nước thứ hai trên thế giới có số du học sinh Việt Nam theo học nhiều nhất. Năm 2009, Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 9 trên thế giới về số lượng du học sinh tại Mỹ. 1. Hệ thống giáo dục đại học ở Mỹ dân chủ và tiên tiến bậc nhất trên thế giới. Tôi có những buổi học 4 môn liên tục từ 11 giờ trưa tới 5 giờ chiều mà chỉ được nghỉ 15 phút để chạy từ giảng đường này sang giảng đường khác, ăn đồ ăn nhanh ở trong lớp thường là giải pháp cho các bữa trưa của tôi. Không những được phép ăn uống, mà tôi còn có thể nhắn tin bằng di động hay dùng máy tính xách tay trong lớp. Không có chuyện giáo sư gọi sinh viên trả lời như một điều trừng phạt khi sinh viên đang suy nghĩ đâu đó. Sinh viên chúng tôi được tranh luận thẳng thắn mà không bị đánh giá thái độ mỗi khi phản bác ý kiến của thầy cô. Một điều hết sức bình thường ở Mỹ là giáo sư vui vẻ cảm ơn mỗi khi sinh viên chỉ ra điểm sai trong bài giảng. Tôi thậm chí có lần còn được cộng điểm vì chỉ ra được những lỗi như thế. Thế mới hiểu tại sao sinh viên Mỹ có phong cách rất tự tin, vì họ nhận được sự khuyến khích thực sự từ các thầy cô mỗi khi phát biểu, ngay cả việc yêu cầu giáo sư nhắc lại câu vừa mới nói. Ngoài giờ học chính thức, các giáo sư thường dành khoảng 2- 4 tiếng mỗi tuần để sinh viên có thể dễ dàng tới trao đổi hay giải đáp thắc mắc ở văn phòng riêng của họ. Sinh viên du học cũng có thể học qua gia sư của từng môn học. Đây là những bạn học sinh giỏi của các lớp trước được nhà trường thuê và trả lương khoảng $9/giờ, 10 giờ một tuần. Một điều khác làm cho nhiều du học sinh bỡ ngỡ đó là không có sự phân biệt về tuổi tác trong lớp học. Tôi có cậu bạn học cùng lớp tiếng Anh trong kỳ đầu tiên 28 tuổi và có những bạn trong lớp năm thứ ba nếu so về số tuổi có lẽ nhiều gấp đôi của tôi. Ngay cả học sinh cấp ba ở Mỹ cũng không tuân theo chuẩn mực đứng lên chào khi thầy cô bước vào và ra khỏi lớp. Sinh viên được nhận kết quả thi tuyệt đối riêng tư. Nếu không hỏi nhau thì bạn bè không ai biết kết quả của ai. Việc học là cho mình chứ không phải học vì nỗi sợ bị bạn bè đánh giá. Ở Mỹ, phụ huynh chỉ có quyền biết điểm của con mình nếu như họ là người đóng tiền học cho con họ. 2. Chương trình du học ở đại học Mỹ linh hoạt hơn ở ta. Sinh viên được chọn môn, chọn thầy, và chọn giờ học theo ý mình. Tôi có một cô bạn nhà ở cách trường một tiếng lái xe nên học dồn tất cả các lớp học vào ba ngày đầu tuần. Tôi đã từng bất ngờ khi cô giáo hỏi có những ai đi làm thêm trong giảng đường hơn 200 sinh viên năm thứ nhất, thì có tới 3/4 lớp tôi giơ tay lên. Thậm chí, tôi có cô bạn vừa đi học 5 môn một kỳ vừa đi làm 32 tiếng một tuần. Mặc dù du học sinh phải đăng ký ngành học ngay từ khi vào trường, nhưng sinh viên du học có thể thay đổi ngành học trong hai năm đầu mà hầu như không ảnh hưởng đến thời gian tốt nghiệp. Sinh viên du học chọn ngành Văn học vẫn có thể chuyển sang nghành Kiểm toán chẳng hạn. Trong 2 năm đầu tiên, hầu hết chương trình của các ngành đều giống nhau. Tất cả sinh viên bất kể chuyên ngành nào, dù Kiểm toán hay Văn học, đều phải hoàn tất chương trình cơ bản trong hai năm đầu với nhiều môn trên nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên Toán, Lý, Hóa, Sinh, khoa học xã hội Lịch sử, Xã hội học, Chính trị, Tiếng Anh học lối viết trong nghiên cứu, đến các lớp như Âm nhạc hay Sân khấu. Đương nhiên là sinh viên được quyền chọn môn học mình yêu thích trong số những nhóm môn ấy. Chương trình đại học được thiết kế trong vòng 4 năm, nhưng vì học theo tín chỉ nên sinh viên có thể học nhiều lớp trong hai kỳ chính cũng như có thể học cả ba kỳ hè để rút ngắn thời gian học. 3. Về cách dạy ở trường đại học Mỹ, không bao giờ có tình trạng thầy đọc trò chép. Thầy cô trình chiếu bài giảng hoặc phát bài rồi nói về những vấn đề đó. Những điều cần giải thích thêm thầy cô mới ghi lên bảng. Sinh viên có thể lên website của thầy cô xem lại bài trình chiếu để bổ trợ trong quá trình tự học. Thời khóa biểu được phát đầu kỳ, và các bài giảng cứ thế răm rắp tuân thủ theo từ tuần đầu tiên đến tuần cuối cùng. Và đặc biệt các giáo sư rất đúng giờ, hầu như họ đều vào lớp trước giờ học, khó có thể tìm được buổi học nào mà thầy cô lên lớp muộn, dù là chỉ một phút. 4. Điều khác biệt nữa là cách thức đánh giá sinh viên. Ở Mỹ trong một kỳ, một sinh viên thông thường học 5 môn. Mỗi môn có từ 3 đến 6 bài kiểm tra, với phần trăm điểm được phân bố. Kỳ vừa rồi với 5 lớp học, tuần nào tôi cũng có ít nhất một bài kiểm tra như thế, có tuần có tới 4 bài kiểm tra, bài viết phải nộp, và bài thuyết trình trên lớp. Còn ở Việt Nam, nếu như không có kiểm tra giữa kỳ thì chỉ có duy nhất một bài kiểm tra cuối kỳ. Như vậy là sinh viên ở Mỹ phải học liên tục, chứ không như ở Việt Nam, lịch thi tạo điều kiện cho sinh viên có thể thong dong đầu kỳ rồi cuối kỳ học gấp rút trong vài ba ngày cho bài thi cuối kỳ rồi cũng xong. Và tất nhiên, kiến thức được xây dựng từ bài cơ bản đến bài nâng cao như mưa dầm thấm đất, sinh viên sẽ nắm được vấn đề một cách chắc chắn. Hơn nữa, ngoài các bài kiểm tra, có môn tôi còn phải làm bài trắc nghiệm trong vòng 15 phút trên mạng hàng tuần. Hay có lớp cứ hai tuần có một bài về nhà trên mạng, tôi lại phải dành ra khoảng 4 tiếng để hoàn thành 30-50 câu hỏi trắc nghiệm. Học ở Mỹ, tôi phải viết rất nhiều. Nhiều khi tôi phải tự tìm chủ đề và tìm tài liệu tham khảo trong thư viện. Có những bài dài đến gần 30 trang. Đặc biệt, sinh viên có thể bị đánh trượt nếu phạm lỗi đạo văn, dù chỉ là lỗi sao chép trong một bài luận. 5. Ở Mỹ mỗi trường đại học có cả hàng chục đến cả trăm hội sinh viên chứ không phải mỗi trường chỉ có một vài hội sinh viên như ở Việt Nam. Nếu sinh viên muốn tham gia tình nguyện thì có thể tham gia chương trình tình nguyện của rất nhiều câu lạc bộ sinh viên. Có câu lạc bộ về chuyên nghành như Tài chính, Kiểm toán, Kinh tế học, Hóa học, Công nghệ thông tin, về văn hóa hội sinh viên các quốc gia và vùng lãnh thổ, hay về giải trí Nhiếp ảnh, Bóng bàn, Cờ vua. Bên cạnh đó có rất nhiều lớp học ngoại khóa Yoga, nhảy Latin. Hoạt động của các câu lạc bộ trong trường đại học Mỹ rất năng động. Tham gia hoạt động ngoại khóa giúp tôi học hỏi nhiều điều trong cách giao tiếp. Năm ngoái, tôi từng được gặp thị trưởng thành phố tôi đang học trong một buổi trò chuyện do hội sinh viên nghành Tài chính của trường tổ chức. Mới cách đây 2 tuần, tôi lại cùng với thành viên hội này được đến thăm quan chi nhánh ngân hàng Frost National Bank ở trung tâm thành phố của tôi. Trong buổi đó, chúng tôi được giao lưu với chủ tịch, phó chủ tịch, cũng như nhiều trưởng các bộ phận trong ngân hàng như đầu tư, tín dụng, và quỹ. Thậm chí, sau khi qua hai lớp cửa an toàn, những sinh viên chúng tôi còn được tận mắt nhìn thấy kho tiền của ngân hàng. Nói thêm về chuyến tham quan này, tôi là thành viên trong ban quản trị của hội và là người chịu trách nhiệm tổ chức buổi thăm quan này. Một lần tình cờ khi nói chuyện với giáo sư, tôi đề đạt nguyện vọng của hội muốn tìm hiểu cách thức hoạt động của một ngân hàng trong thành phố, thầy tôi vui vẻ mở facebook của thầy và gửi tin nhắn cho một sinh viên cũ của thầy đang làm việc tại ngân hàng. Vài tuần sau đó, sau cuộc gọi điện của thầy tôi, chỉ hai ngày sau anh sinh viên cũ gửi chương trình buổi thăm quan kèm theo ngày giờ cụ thể qua thư điện tử cho tôi. Sự nhiệt tình của thầy tôi, tinh thần trách nhiệm của anh sinh viên cũ của thầy, và sự thân thiện của các nhân viên trong ngân hàng đã khiến tôi, một sinh viên quốc tế, không khỏi ngỡ ngàng. Sau chuyến thăm quan ngân hàng Frost National Bank, hãy cùng tôi ngẫm nghĩ phép so sánh nho nhỏ sau công ty có vốn hóa lớn nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam hiện nay là ngân hàng Vietcombank có tổng tài sản 12,7 tỷ USD chỉ bằng khoảng 2/3 tổng tài sản của ngân hàng Frost National Bank 1Tin tức,7 tỷ USD – ngân hàng lớn nhất ở tiểu bang Texas, Mỹ. Chúng ta đi sau cả về kinh tế và giáo dục. Như một quy luật trong cuộc thi chạy đường trường, một khi ta xuất phát sau thì ta phải tăng tốc, và tốc độ phải nhanh hơn đối thủ đằng trước thì ta mới có cơ về đích trước. Được tiếp cận với nền giáo dục chất lượng cao ở Mỹ như vậy, liệu sẽ có bao nhiêu du học sinh dũng cảm quay về Việt Nam sau khi tốt nghiệp, áp dụng những kiến thức tiên tiến vào tình hình riêng của nước ta, để nghĩ lớn và làm lớn? Thục Uyên SSDH – Theo Vnexpress Bài viết này tóm tắt những khác biệt cơ bản giữa giáo dục đào tạo GDĐT cấp cử nhân Bechelor of Arts hay gọi tắt là BA ở Mỹ và ở Việt Nam hiện nay. Những nét cơ bản này dựa vào so sánh chương trình học kinh tế ở VN và chương trình học khoa học cơ bản, xã hội hoặc nhân văn liberalarts trong đó có kinh tế, toán, vật lý, hoá học, văn chương, tâm lý học…1. Chương trình học ở VN quá dàiThời gian học 4 năm ở lớp tại VN là giờ so với 1 380 giờ ở Mỹ. Như vậy chương trình ở VN dài hơn gần 60%. Điều này có thể là do thiếu sách vở, nên thày phải vào lớp đọc cho sinh viên chép hoặc là quán tính từ quá khứ để lại. Với thời gian ngồi lớp như vậy, SV sẽ còn ít thì giờ để tự học, nghiên Chương trình ở VN không phải là dạy nghề, cũng không đào tạo một người có kiến thức sâu và tính sáng trình học kinh tế KT cần giờ học KT, so với ở Mỹ chỉ cần tối thiểu là 480 giờ tức là 1/3 chương trình Đại học. Như vậy, sinh viên VN phải phải học gấp 3 lần số giờ ở đại học chương trình giảng dạy ở ĐH Kinh tế ta thấy, SV trong 4 năm phải học gần như tất cả mọi thứ trên đời về KT mà nhà trường có thể nghĩ ra được. Họ học từ các môn cơ bản như KT vĩ mô và vimô, đến các môn như KT lao động, quản trị xí nghiệp, kế toán, địa lý KT, luật kinh tế, dân số học, chính sách thương mại, kinh tế tài nguyên và môi trường, phân tích dự án KT, thị trường chứng khoán… Đây là những môn ít khi dạy ở cấp ĐH 4 năm và có dạy thì chỉ là những môn để sinh viên có thể chọn lựa. Đây cũng là những môn mà trường ĐH có thầy đã và đang nghiên cứu chuyên sâu. Đòi hỏi mỗi thứ một tí, SV không có khả năng hoặc thì giờ đi sâu vào bất cứ vấn đề gì và chắc chắn là thầy cũng chỉ đọc sách nói lại mà không biết thầy có hiểu không nữa. Theo các tài liệu giáo khoa của trường, thì nội dung rất nặng lý thuyết mà nhiều phần sinh viên ở Mỹ chỉ học trong chương trình sau cử nhân. Như vậy trường chỉ nhằm nhồi sọ kiến thức lý thuyết KT mà sự phân chia chi li các lớp học thì có vẻ thực dụng như dạy Chương trình ở Việt Nam không trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và toàn diện, khoa học tự nhiên, nhân văn, văn chương và nghệ thuật, không có một lớp nào về phương pháp nghiên cứu và viết luận trình ở Mỹ các Đại học danh tiếng đòi hỏi SV phải học một chương trình cơ bản dù là học ngành gì khoa học cơ bản đó là học ngành gì khoa học cơ bản, xã hội hoặc nhân văn. Đây chính là chương trình thể hiện đích đào tạo những cá nhân có tri thức cơ bản, có phương pháp suy nghĩ và phân tích các vấn đề, có khả năng viết luận văn nghiên cứu. Chương trình cơ bản bắt buộc này cũng chiếm 1/3 thời gian học 4 năm như thời gian tối thiểu dành cho ngành học chính. Chúng gồm có những môn như sauChương trình kiến thức cơ bản bắt buộc ở Đại học MỹTín chỉ theo chương trình 3 kỳ học một nămThời gian học giờHội thảo về phương pháp suy nghĩ, phân tích, nghiên cứu và viết luận văn260Ngoại ngữ hoặc qua kỳ thi sát hạch*6180Viết tiếng Anh hoặc qua kỳ thi sát hạch*260Kiến thức cơ bản Khoa học tự nhiên1180 Quy tắc và phương pháp logic Khoa học xã hội và hành vi Sử học Giá trị triết học, tôn giáo hoặc đạo đức Văn học và nghệ thuật11111Tổng chương trình cơ bản16480Tổng chương trình 4 dựa vào chương trình của Northwestern University - Nếu qua được kỳ thi sát hạch, học sinh có thể học ở những lớp cao hơn hoặc học về văn học nước ngoài dạy bằng tiếng nước ngoài, hoặc văn chương tiếng Anh để thay thế.4/ ĐH ở Việt Nam tất cả các môn có tính bắt buộc, SV không có quyền tự chọn. Ngược lại ở Mỹ, SV có quyền tự chọn đến 1/3 thời gian học dù học bất cứ ngành chính nào như toán, vật lý, hóa học, kinh tế, tâm lý, văn chương…Việc tự chọn là rất quan trọng để SV mở mang kiến thức về nhiều ngành học khác nhau. Việc hiểu biết liên ngành này cho phép SV hợp tác nghiên cứu liên ngành, phân tích và nhìn vấn đề không bị cục diện, bó hẹp vào chuyên môncủa mình. SVĐH với quyền tự chọn có thể chọn hai ngành chuyên môn, hoặc một ngành chính và một ngành khi ra trường, họ có thể làmviệc ở nhiều chuyên môn khác nhau chứ không bị bó vào chuyên môn duy nhất mà mình học ở trường, kể cả thay đổi hoàn toàn để theo một ngành khác. Triết lý giáo dục ở Mỹ cho phép và trang bị cho sinh viên thực hiện việc đổi ngành mà không bị hụt trình 4 năm đại học ở MỹKiến thức cơ bản bắt buộc trong đó có những lớp bắt buộc và những lớp tự chọn trong những ngành bắt buộc1/3 chương trình680 giờNgành chính Ngành bắt buộc học Phần tự chọn trong ngành chính1/3 chương trình1/6 chương trình1/6 chương trình680 giờPhần tự chọn trong các ngành khác, học sinh có thể lấy thêm một ngành chính khác, hoặc 1 ngành phụ và những lớp tự chọn thêm trong ngành chính1/3 chương trình660 giờ5/ Trong ngành học chính toán, vật lý, hóahọc, kinh tế, ngoài các lớp cơ bản phải học, SV Mỹ có quyền tự chọn các lớp trong ngành chính. Ngược lại SV Việt Nam phải học tất cả mọi thứ mà nhà trường quyết định ngành chính major, chẳng hạn như KT, phần bắt buộc học cũng chỉ khoảng 1/2. Học sinh sẽ tự chọn những môn trong ngành KT mà họ thích. Ví dụ về KT, học sinh bị đòi hỏi học những môn sauTín chỉGiờKinh tế vi mô nhập môn130Kinh tế vĩ mô nhập môn130Toán calculus nhập môn130Thống kê cho ngành XH nhân văn130Kinh trắc học nhập môn130Kinh tế vi mô trung cấp130Kinh tế vĩ mô trung cấp130Tổng giờ ngành học chính bắt buộc210Giờ học ngành chính tự lựa chọn270Tổng giờ học trong ngành chính4806/ Về chương trình cách tânDo chương trình giảng dạy ở VN quá dài, vấn đề cắt bớt là cần thiết nhằm tạo thì giờ cho SV và thầy giáo nghiên cứu, tư học. Chương trình cắt bớt này có thể cắt bớt hoặc vẫn giữ nguyên giờ học về chủ nghĩa Mác - Lê nin. Nếu áp dụng đúng số giờ ở Mỹ thì tổng giờ học sẽ là trong đó chỉ có 208 là môn học tự chọn coi bảng sau. Nếu đưa tổng số giờ cho các môn tự chọn lên bằng ở Mỹ thì tổng số giờ học sẽ lên tới giờ, cũng chỉ hơn Mỹ 20%, như vậy là giảm được 25% so với hiện gian theo mô hình Mỹ nhưng giữ nguyên thời gian dạy chính trị như hiện nayGiờ học 4 nămChương trình cơ bản480Ngành chính có thể có toán, vật lý, kinh tế…480Chủ nghĩa Mác - Lê nin200Tự Khả năng cách tân chương trình ở Việt NamKhả năng canh tân chương trình ở Việt Nam Khả năng canh tân chương trình ở VN hiện nay bị giới hạn bởi mô hình tổ chức ĐH ở VN. Trước tiên, để hiểu những hạn chế gặp phải, cần hiểu về những yếu kém của đại học VN, và do đó trước tiên cần biết qua về mô hình đại học Mỹ mà các nước trên thế giới hiện nay đang noi theo, kể cả ĐH ở Pháp. ĐH Mỹ có thể chia làm hai loại university và col1ege hoặc có khi gọi là faculty. Ví dụ ĐH Northwestern có nhiều trường college như Trường khoa học tự nhiên và nhân văn school of arts and science, đây là chữ thường dùng cho trường liberal arts như đã nói ở đoạn đầu, tức là gồm các ngành khoa học cơ bản như toán, vật lý, hoá học, và khoa học nhân văn như sử, kinh tế, chính trị, tâm lý… Trường thương mại school of business Trường sư phạm school of education, Trường kỹ sư school of engineering, Trường luật, Trường y khoa, Trường âm nhạc…Khi gọi là university thì Đại học gồm các trường như trên cộng thêm với trường sau cử nhân về khoa học tự nhiên và nhân văn thường được gọi là graduate school of arts and science. Hầu hết các ĐH gọi là university cấp thêm ít nhất là Bằng Cao học MA và thường là cấp cả Bằng Tiến sĩ PHD. Các trường chỉ cho Bằng Cử nhân thì thường gọi là college of arts and science chính là Trường Khoa học Tự nhiên và Nhân văn, ở cấp Cử nhân BA. Các trường khác hiện nay được tổng hợp vào một ĐH, nhưng trước kia được coi là trường chuyên nghiệp, nếu không nói là trường dạy nghề. Tuy nhiên, SV các trường chuyên nghiệp như vậy hiện nay cũng phải học chương trình kiến thức cơ bản, mặc dù có khi được châm chước giảm thiểu hơn một chút. Nhiều trường chuyên nghiệp chỉ có ở dạng sau cử nhân, tức là học sinh phải học xong Trường Khoa học Tự nhiên và Nhân văn rồi mới được nhận vào đây là trường Luật, Y khoa, và nhiều nơi là trường Thương mại với chương trình tổ chức như trên, Trường Khoa học Tự nhiên và Nhân văn là linh hồn của GDĐH, vì ở đây có thể dễ dàng thực hiện chương trình kiến thức cơ bản, học sinh các ngành khác nhau có thể học chung và có thể lấy những lớp ở những trường hoặc phân khoa ngành chính khác trong cùng trường cho chương trình tự chọn không thuộc ngành trình học kinh tế cần giờ học kinh tế, so với ở Mỹ chỉ cần tối thiểu là 480 giờ tức là 1/3 chương trình Đại học. Như vậy SV Việt Nam phải học gấp 3 lấn số giờ ở Đại học Mỹ. Việc tự chọn là rất quan trọng để SV mở mang kiến thức về nhiều ngành học khác nhaui. Việc hiểu biết liên ngành này cho phép SV hợp tác nghiên cứu liên ngành, phân tích và nhìn vấn đề không bị cực diện, bó hẹp vào chuyên môn của học Việt Nam hiện nay vẫn được tổ chức như là những ốc đảo, ốc đảo về tổ chức và ốc đảo về địa lý theo nghĩa trường Nhân văn ở một nơi, trường Luật ở một nơi, trường Khoa học tự nhiên như toán, vật lý, hóa học, sinh học ở một nơi VN hiện nay vẫn được tổ chức như là những ốc đảo, ốc đảo về tổ chức và ốc đảo về địa lý theo nghĩa trường nhân văn ở một nơi, trường luật ở một nơi, trường khoa học tự nhiên như toán, vật lý, hoá học, sinh học ở một nơi khác. Khi các trường ĐH ở VN được tổ chức lại thành các ĐH Quốc gia như ĐH Quốc gia ĐH Quốc gia Hà Nội, thì việc tổ chức lại chỉ là cái tên, với một lớp quản lý cao hơn ở phía trên, chương trình của đại học đã không tổng hợp lại, học sinh ở trường này không thể lấy lớp ở trường khác và địa dư khác biệt cũng làm cho việc lấy lớp khó khăn. Ốc đảo về tổ chức cũng không cho phép thầy giáo kết hợp, trao đổi và nghiên cứu chung. Việc tổ chức ốc đảo này tiếp tục vì triết lý giáo dục tổng hợp không được thể hiện trong chương trình giảng dạy ở mỗi trường. Mới đây trường ĐH KT rút ra khỏi trường ĐHQG thành một trường độc lập. Do đó việc học toán chẳng hạn ở những thầy dạy KT thì rõ ràng là học từ một người biết sơ về toán. Ngược lại muốn dạy về KT môi trường mà không biết gì về hoá học hoặc nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc không có cơ hội giao lưu với những người ở những ngành này thì mục đích cũng chẳng khác gì nhằm tạo ra những người khiếm với những trở ngại này, vẫn có thể canh tân chương trình nếu như lấy triết lý GD ĐH là đào tạo ra những người có kiến thức cơ bản.1. Hệ thống tín chỉ ởMỹ tại các trường không giống nhau.2. Việc học sinh ớ một khoa hoặc một trường tự chọn lớp ở một khoa khác hoặc môi trường khác phải nằm trong khuôn khổ soạn sẵn mà khoa hoặc trường cho là tương đương. nếu không học sinh phải xin phép đặc biệt của khoa mà học sinh học nhằm công nhân sự tương đương Điều này cần thiết nhằm bảo đảm chất lượng của lớp học.3. Ở Mỹ, vào college danh tiếng cũng khó như vào universlty danh tiếng. Các liberal arts college thường có dưới sinh viên Các college danh tiếng như Williams college. Amherst college, Swarthmore cũng khó như vào Harvard, Yale, Columbia...Có thể tham khảo thông tin tại Không phải ngẫu nhiên mà Mỹ lại được đánh giá là quốc gia có nền giáo dục chất lượng hàng đầu thế giới. Cùng so sánh hệ thống giáo dục Mỹ và Việt Nam trong bài viết dưới đây của Casa Seguro để thấy rõ điều này. Nhắc tới Mỹ hầu hết chúng ta đều nghĩ tới một quốc gia có nền kinh tế phát triển, công nghệ thông tin đi đầu toàn cầu và là nơi có nhiều trường đại học danh tiếng bậc nhất. Chỉ từng đó thôi cũng đủ thấy chất lượng giáo dục của nước này đóng vai trò quan trọng ra sao. Một vài so sánh hệ thống giáo dục Mỹ và Việt Nam ngay sau đây sẽ cho thấy khoảng cách giữa giáo dục 2 quốc gia là quá lớn. Khác biệt trong cách giảng dạy Một trong những khác biệt rõ nét nhất khi so sánh hệ thống giáo dục Mỹ và Việt Nam chính là cách giảng dạy. Việt Nam Giáo dục thiên nhiều về lý thuyết. Quá trình giảng dạy chủ yếu xoay quanh nội dung sách giáo khoa. Tiêu chí đánh giá kết quả học tập là học sinh phải nắm vững lý thuyết trong sách. Mỹ Ngược lại với Việt Nam, người Mỹ coi trọng thực hành hơn. Các chương trình học sẽ đan xen lý thuyết và thực hành. Ngoài kiến thức trong sách, giáo viên sẽ hướng học sinh tới những tình huống thực tiễn. Bằng phương pháp này, các em sẽ hiểu và biết cách áp dụng lý thuyết vào cuộc sống. Hơn thế, nhà trường cũng sẽ khuyến khích các em tham gia thảo luận, phát biểu quan điểm cá nhân. Đây là điểm khác biệt rõ nét khi so sánh hệ thống giáo dục Mỹ và Việt Nam. Người Mỹ ưu tiên cách dạy kết hợp cả thực hành và lý thuyết. Việt Nam Tại Việt Nam, học sinh không được phép lựa chọn môn học mình yêu thích ngay từ đầu. Hệ thống giáo dục chia thành 3 nhóm môn học chính là Khoa học tự nhiên Toán, Hóa, Lý, Sinh Khoa học xã hội Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân… Ngoại ngữ Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung… Học sinh sẽ bị bắt buộc học các môn có sẵn. Số lượng môn học nhiều, lý thuyết khô cứng, khó tiếp thu. Đây cũng là một trong những lý do khiến các em dễ chán học, hoặc học với tâm thế bị ép buộc. Mỗi một kỳ thi, học sinh phải dành nhiều thời gian để ôn luyện các môn khác nhau. Từ đó, không phân bổ đủ thời gian nghỉ ngơi, tham gia ngoại khóa hay lớp học kỹ năng mềm. Mỹ Hệ thống giáo dục Mỹ lại hoàn toàn khác. Họ trao quyền lựa chọn cho học sinh. Các em được phép chọn lớp học, môn học theo sở thích cá nhân. Nhà trường cũng xây dựng các chương trình ngoại khóa, khuyến khích học sinh tham gia. Đặc biệt, hàng năm các thầy cô sẽ cho học sinh lựa chọn học môn nghệ thuật hoặc thể thao theo đúng thế mạnh. Bằng cách này, các em được phát huy tối đa năng khiếu của bản thân. Xem thêm Hệ thống giáo dục Mỹ Những điều mà không phải ai cũng biết Sự khác biệt về cách đánh giá So sánh hệ thống giáo dục Mỹ và Việt Nam còn thấy sự khác biệt trong cách đánh giá học sinh. Việt Nam Thầy cô sẽ đánh giá học sinh thông qua điểm số hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng. Vô hình chung, điểm số đã tạo áp lực lên học sinh, phụ huynh. Trước các kỳ thi chuyển lớp, chuyển cấp, đại học, các em phải chịu 1 áp lực rất lớn. Mỹ Tại Mỹ, nhà trường lại chọn đánh giá học sinh bằng nhiều yếu tố khác nhau. Đối với kỳ thi đại học, các trường sẽ xét tuyển dựa trên điểm SAT, ACT. Ngoài ra, họ còn xem xét cả điểm tham gia hoạt động ngoại khóa. Giải thưởng Tại Việt Nam, học sinh phải chịu áp lực rất lớn về điểm số, thành tích. Hệ thống giáo dục Việt Nam rất coi trọng thành tích. Học sinh chịu áp lực rất nhiều đối với việc thi “trường chuyên, lớp chọn”. Nhiều người nhận xét, giáo dục Việt Nam đào tạo học sinh thành những cỗ máy. Các em buộc phải nạp vào quá nhiều lý thuyết “suông” không có tính thực tiễn. Trong khi đó ở Mỹ, học sinh được khuyến khích chứ không bắt buộc phải tham gia các cuộc thi. Học sinh sẽ được tự mình lựa chọn có thi hay không. Sau đó, sẽ tự xây dựng lên kế hoạch học tập và ôn luyện để đạt kết quả cao. Ứng dụng công nghệ trong giảng dạy Một trong những điểm yếu của giáo dục Việt Nam khi so sánh với Mỹ chính là thiết bị giảng dạy. Tại Việt Nam chỉ có một số trường công lập, tư thục mới được trang bị máy chiếu, tivi phục vụ cho công việc giảng dạy. Còn lại, đại đa số các trường chỉ sử dụng phấn và bảng đen. Trong khi đó, hệ thống giáo dục ở Mỹ trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại nhất để phục vụ cho việc giảng dạy diễn ra hiệu quả hơn. Để giao tiếp với học sinh ngoài giờ lên lớp, giáo viên có thể sử dụng hệ thống quản lý học tập như Canvas, Moodle, Google Classroom và các hệ thống khác. Bên cạnh đó, các trường học ở Mỹ cũng thường xuyên đổi mới thiết bị, máy móc để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Hoạt động ngoại khóa Hiện tại, học sinh, sinh viên Việt Nam đã được tham gia vào nhiều chương trình ngoại khóa hơn trước kia. Tuy nhiên, những hoạt động này cũng không đóng góp quá nhiều vào bảng đánh giá cuối kỳ, cuối năm. Trong khi đó, nếu so sánh nền giáo dục Việt Nam và Mỹ sẽ thấy Mỹ cực kỳ coi trọng điểm hoạt động ngoại khóa. Học sinh Việt Nam tập trung cho việc học trên lớp thay vì hoạt động ngoại khóa. Bạn có thể nhìn rõ điều này khi bạn làm hồ sơ du học Mỹ. Theo đó, nếu muốn xin học bổng thì điểm trung bình đạt loại xuất sắc là chưa đủ. Các trường đại học Mỹ vẫn ưu tiên các bạn học sinh có thành tích hoạt động ngoại khóa tốt. Ví dụ, bạn có thể vượt qua được ứng viên khác nhờ giữ vị trí lãnh đạo trong một vài câu lạc bộ. Tại các trường đại học tư thục ở Mỹ, đôi khi điểm hoạt động ngoại khóa có giá trị tương đương với GPA. Nhìn chung, so sánh hệ thống giáo dục Mỹ và Việt Nam là một sự khiên cưỡng. Mỗi một nền giáo dục sẽ có định hướng phát triển khác nhau. Nếu như Việt Nam chú trọng vào lý thuyết thì Mỹ lại thích thực hành và vận dụng các lý thuyết vào cuộc sống hơn. Để tìm hiểu kỹ hơn về hệ thống giáo dục Mỹ, bạn vui lòng đón đọc thêm trong các bài viết tiếp theo của Casa Seguro nhé. So sánh chương trình giáo dục đại học ở Mỹ và Việt NamSo sánh chương trình giáo dục đại học ở Mỹ và Việt NamVũ Quang Việt 1 Bài viết này tóm tắt những nét khác biệt cơ bản giữa giáo dục đại học cấp cử nhân Bachelor of Arts hay gọi tắt là BA ở Mỹ và ở Việt Nam hiện nay. Những nét cơ bản này dựa vào so sánh chương trình học kinh tế ở Việt Nam và chương trình học khoa học cơ bản, xã hội hoặc nhân văn liberal arts trong đó có kinh tế, toán, vật lý, hoá học, văn chương, tâm lý học, Chương trình học ở Việt Nam và ở Mỹ được đưa vào phần phụ lục.

so sánh giáo dục việt nam và mỹ